Cổng thông tin quan trắc môi trường

Cục môi trường Trung tâm quan trắc môi trường miền bắc
Giám định môi trường phải bắt đầu từ mẫu tin cậy
23/10/2026 18:00:00
Mẫu không bảo đảm, dữ liệu thiếu hoặc sử dụng sai phạm vi có thể ảnh hưởng kết luận giám định môi trường, đòi hỏi kiểm soát chặt từng công đoạn.

Ngày 23/10, tại Hà Nội, Trung tâm Quan trắc môi trường miền Bắc, Cục Môi trường tổ chức hội thảo “Quan trắc, phân tích môi trường phục vụ hoạt động giám định tư pháp - những vấn đề đặt ra trong thực tiễn”. Các ý kiến tập trung làm rõ yêu cầu bảo đảm chất lượng mẫu, dữ liệu và căn cứ chuyên môn để kết luận giám định khách quan, chính xác.

Kiểm soát chất lượng ngay từ khâu lấy mẫu

Ông Nguyễn Xuân Hải, Phó Cục trưởng Cục Môi trường nhấn mạnh, giám định tư pháp trong lĩnh vực môi trường cung cấp căn cứ chuyên môn, khoa học phục vụ giải quyết các vụ việc. Chất lượng quan trắc, phân tích ảnh hưởng trực tiếp đến độ tin cậy của cơ sở kỹ thuật phục vụ giám định.

Theo ông Hải, mỗi kết quả phân tích phải phản ánh trung thực mẫu được lấy, được kiểm soát chất lượng và có đầy đủ hồ sơ để kiểm tra, đối chiếu, truy xuất. Một sai sót trong lấy mẫu, bảo quản hoặc xử lý số liệu có thể ảnh hưởng đến việc đánh giá bản chất vụ việc, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Vì vậy, chất lượng cần được bảo đảm xuyên suốt quá trình lập kế hoạch, quan trắc tại hiện trường, phân tích trong phòng thí nghiệm và sử dụng kết quả để ban hành kết luận giám định. Trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân phải thể hiện rõ trong hồ sơ.

Ông Hải đặc biệt lưu ý tính đại diện của mẫu đối với đối tượng, thời điểm và phạm vi cần đánh giá. Việc lựa chọn phương pháp, kiểm soát chất lượng và lưu giữ dữ liệu gốc phải đi cùng với xác định cơ sở, giới hạn sử dụng kết quả, tránh suy diễn vượt quá những gì dữ liệu có thể chứng minh.

Làm rõ yêu cầu kỹ thuật, ông Hà Thanh Liêm, Trung tâm Quan trắc môi trường miền Bắc cho rằng độ tin cậy của kết quả hình thành từ toàn bộ chuỗi công việc và hồ sơ minh chứng. Ngay khi tiếp nhận trưng cầu, đơn vị thực hiện cần nghiên cứu hồ sơ, làm rõ nội dung, phạm vi và điều kiện chuyên môn trước khi xây dựng phương án.

Tại hiện trường, đoàn giám định phải đối chiếu hồ sơ với nguồn thải thực tế, ghi nhận cơ sở đang vận hành hay dừng hoạt động, thời điểm xả thải và điều kiện tiếp cận vị trí lấy mẫu. Những yếu tố này quyết định phương án lấy mẫu có phù hợp và kết quả có thể đại diện cho đối tượng cần đánh giá hay không.

Theo ông Liêm, khi điều kiện thực tế khác phương án, đơn vị phải ghi nhận, lập biên bản và trao đổi đúng thẩm quyền trước khi thay đổi. Nếu mẫu, niêm phong hoặc điều kiện bảo quản có bất thường, cần đánh giá ảnh hưởng, giữ nguyên dấu vết để có thể giải trình.

Các ý kiến tại hội thảo tập trung làm rõ yêu cầu bảo đảm chất lượng mẫu, dữ liệu và căn cứ chuyên môn để kết luận giám định khách quan, chính xác. Ảnh: CMT.

Các ý kiến tại hội thảo tập trung làm rõ yêu cầu bảo đảm chất lượng mẫu, dữ liệu và căn cứ chuyên môn để kết luận giám định khách quan, chính xác. Ảnh: CMT.

Trong phòng thí nghiệm, khi mẫu kiểm soát chất lượng hoặc dữ liệu phân tích không đạt yêu cầu, đơn vị không được tự ý phát hành số liệu bị ảnh hưởng. Việc điều tra nguyên nhân, xử lý và xác nhận kết quả phải có hồ sơ. Mỗi kết quả cần truy xuất được về mẫu, thiết bị và quá trình phân tích tương ứng.

Kết luận phải đúng phạm vi dữ liệu chứng minh

Theo phân tích của ông Nguyễn Đức Thành, Trung tâm Quan trắc môi trường miền Bắc, những yêu cầu kỹ thuật trở nên rõ ràng hơn qua các vụ việc. Giai đoạn 2023-2026, Trung tâm thực hiện nhiệm vụ theo 26 quyết định trưng cầu, với đối tượng đa dạng như nước thải, khí thải, chất thải công nghiệp và môi trường đất.

Một khó khăn lớn là hiện trạng lúc giám định có thể khác thời điểm xảy ra vụ việc. Trong vụ việc liên quan khai thác, chế biến quặng đất hiếm tại Yên Bái và các cơ sở liên quan, phạm vi giám định trải trên 7 địa điểm thuộc 5 địa phương theo hồ sơ.

Khi giám định, các cơ sở đã dừng hoạt động, niêm phong nên không có mẫu nước thải, khí thải. Hiện trạng môi trường thay đổi, thiếu số liệu nền và tài liệu về nguồn gốc vật chất khiến việc đánh giá ảnh hưởng đến môi trường gặp khó.

Đơn vị giám định thống nhất với cơ quan điều tra lấy mẫu chất thải để phân định, lấy mẫu môi trường xung quanh để đánh giá theo quy chuẩn; đồng thời đề nghị bổ sung tài liệu về quy trình sản xuất, nguyên liệu và nguồn phát sinh chất thải.

Một tình huống khác tại Bắc Giang cho thấy cần kiểm tra kỹ điều kiện mẫu bàn giao. Bốn chai mẫu nước thải đã lưu giữ hơn 5 tháng. Sau khi xem xét hồ sơ, tình trạng mẫu, các bên xác định nhóm mẫu này chưa bảo đảm điều kiện giám định và thống nhất lập biên bản bàn giao lại.

Đơn vị tiếp tục lấy mẫu trực tiếp tại cửa xả để thực hiện nội dung còn đủ điều kiện. Tuy nhiên, kết quả mẫu mới gắn với thời điểm lấy mẫu mới, không tự giải quyết được nội dung liên quan nhóm mẫu cũ.

Tại một trạm xử lý nước thải sinh hoạt ở Hà Nội, khó khăn nằm ở chế độ xả theo mẻ. Giá trị lưu lượng đo tại hiện trường chỉ phản ánh thời điểm quan trắc, chưa đủ để xác định tổng lượng nước thải trong ngày hoặc giai đoạn dài hơn.

Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm. Ảnh: CMT.

Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm. Ảnh: CMT.

Muốn xác định lượng thải theo ngày hoặc theo kỳ, cần bổ sung căn cứ về thời gian bơm, số mẻ và chu kỳ xả. Theo ông Thành, kết luận phải gắn với vị trí, thời điểm, phạm vi đại diện của mẫu; nêu rõ nội dung xác định được và nội dung chưa đủ cơ sở. 

Từ thực tiễn này, ông Nguyễn Xuân Hải đề nghị các đơn vị chỉ rõ vướng mắc ở từng khâu, nguyên nhân và hướng xử lý; làm rõ trách nhiệm phối hợp giữa cơ quan trưng cầu với tổ chức giám định. Việc tổng hợp tình huống, hoàn thiện hướng dẫn và chuẩn hóa quy trình cần gắn với quản lý chặt hồ sơ, mẫu vật, dữ liệu, bảo đảm mỗi nhận định đều có căn cứ kiểm chứng.

Mai Đan

Hình ảnh

Liên kết