Cổng thông tin quan trắc môi trường

Cục môi trường Trung tâm quan trắc môi trường miền bắc
Chuyển từ kiểm soát ô nhiễm sang phục hồi hệ sinh thái sông ngòi
28/04/2026 16:08:00
Thay vì chỉ kiểm soát ô nhiễm, cần tiếp cận theo hướng đánh giá “sức khỏe” của hệ thống nước để có giải pháp căn cơ, lâu dài cho các dòng sông.

Cục Quản lý tài nguyên nước (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) vừa phối hợp với Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam cùng các cơ quan, tổ chức liên quan tổ chức Tọa đàm “Các giải pháp phục hồi nguồn nước”. Diễn đàn thu hút đông đảo đại biểu từ các bộ, ngành, địa phương, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và các tổ chức quốc tế.

Dưới áp lực từ đô thị hóa, công nghiệp hóa, nhiều dòng sông bị ô nhiễm nghiêm trọng. Ảnh: Việt Anh.

Dưới áp lực từ đô thị hóa, công nghiệp hóa, nhiều dòng sông bị ô nhiễm nghiêm trọng. Ảnh: Việt Anh.

Nguồn nước suy thoái, áp lực chồng áp lực

Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Nguyễn Hồng Hiếu thẳng thắn nhìn nhận, thực tế đang đặt ra nhiều thách thức nghiêm trọng. Dưới tác động của biến đổi khí hậu, cùng với gia tăng khai thác, sử dụng nước và áp lực từ đô thị hóa, công nghiệp hóa, nhiều nguồn nước tại Việt Nam đang suy thoái nhanh chóng. 

Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Nguyễn Hồng Hiếu cho rằng, phục hồi nguồn nước đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của toàn bộ hệ thống chính trị. Ảnh: Thanh Tâm.

Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Nguyễn Hồng Hiếu cho rằng, phục hồi nguồn nước đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của toàn bộ hệ thống chính trị. Ảnh: Thanh Tâm.

Không ít dòng sông, kênh, rạch đã bị ô nhiễm nặng nề, thậm chí trở thành những “dòng sông chết”, không còn khả năng tự làm sạch. Hệ lụy không chỉ dừng lại ở môi trường mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến cấp nước sinh hoạt, sản xuất, sức khỏe cộng đồng và cân bằng hệ sinh thái.

Trước thực trạng này, Đảng và Chính phủ xác định phục hồi nguồn nước là nhiệm vụ cấp thiết, có ý nghĩa chiến lược trong bảo đảm an ninh nguồn nước quốc gia. Để có hành lang pháp lý cụ thể, Luật Tài nguyên nước 2023 đã bổ sung nhiều quy định, chính sách liên quan đến phục hồi các dòng sông như quy định cơ chế, chính sách về tài chính cho hoạt động phục hồi nguồn nước để có cơ sở huy động, phân bổ nguồn lực phục hồi nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm.

Đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng đề án "Điều tra, đánh giá và đề xuất phương án thí điểm phục hồi các nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm các sông Bắc Hưng Hải, Nhuệ - Đáy, Ngũ Huyện Khê". Đề án này triển khai nhằm điều hòa, phân phối, phục hồi, phát triển nguồn nước mặt; quản lý, kiểm soát chặt chẽ các nguồn gây ô nhiễm nước mặt trên các sông; thí điểm áp dụng các cơ chế, chính sách nhằm huy động tối đa nguồn lực xã hội... 

Theo ông Nguyễn Hồng Hiếu, đây là nhiệm vụ không chỉ cấp bách trước mắt mà còn mang tính lâu dài, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của toàn bộ hệ thống từ cơ quan quản lý, nhà khoa học đến doanh nghiệp và cộng đồng.

Khôi phục mạch nước cho các dòng sông

Phân tích sâu hơn về căn nguyên gây suy thoái nguồn nước, PGS.TS Trịnh Quang Toàn (Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam) cho rằng, khi lượng nước tự nhiên không còn được duy trì, khả năng tự làm sạch của sông gần như bị triệt tiêu. Điều này khiến các chất ô nhiễm tích tụ, làm gia tăng nhanh chóng các chỉ số ô nhiễm. Nói cách khác, chất lượng nước suy giảm thực chất là hệ quả của sự thiếu hụt về số lượng.

Từ đó, PGS.TS Trịnh Quang Toàn đề xuất cần tiếp cận bài toán phục hồi theo hướng tổng thể, kết hợp đồng thời các giải pháp công trình và phi công trình. Trong đó, các giải pháp kỹ thuật như bổ cập nước dưới đất, xây dựng hệ thống điều tiết, duy trì dòng chảy đóng vai trò quan trọng nhằm khôi phục “mạch nước” cho các dòng sông.

Bên cạnh giải pháp kỹ thuật, PGS.TS Trịnh Quang Toàn cho rằng, yếu tố chiến lược và quản trị đóng vai trò quyết định. "Việc xác định đúng mục tiêu, xây dựng hệ thống tiêu chí rõ ràng và tổ chức giám sát thường xuyên sẽ giúp nhận diện chính xác các vùng suy thoái. Khi trả lời được câu hỏi phục hồi ở đâu, vào thời điểm nào và với mức độ ra sao, nguồn lực đầu tư mới phát huy hiệu quả, tránh lãng phí", PGS Toàn nhận định.

Số hóa và quản lý theo lưu vực

Từ thực tiễn các lưu vực sông trọng điểm như Bắc Hưng Hải, Nhuệ - Đáy hay Ngũ Huyện Khê, các chuyên gia cho rằng việc phục hồi nguồn nước cần được triển khai theo cách tiếp cận liên ngành, liên vùng.

Tọa đàm có sự tham gia của đông đào các chuyên gia, nhà khoa học. Ảnh: Thanh Tâm.

Tọa đàm có sự tham gia của đông đào các chuyên gia, nhà khoa học. Ảnh: Thanh Tâm.

Một trong những giải pháp được nhấn mạnh là thiết lập hệ thống giám sát định kỳ gắn với việc cập nhật danh mục nguồn nước hằng năm. Đây là nền tảng giúp theo dõi biến động, nhận diện sớm rủi ro và kịp thời điều chỉnh chính sách quản lý.

Trên cơ sở đó, việc hiện đại hóa hệ thống quan trắc tài nguyên nước theo hướng tự động, liên tục được xem là bước đi then chốt nhằm nâng cao chất lượng giám sát. Dữ liệu thu thập sẽ được kết nối, tích hợp vào cơ sở dữ liệu quốc gia và phát triển theo thời gian thực. Khi được chuẩn hóa và liên thông, hệ thống này cho phép cơ quan quản lý chủ động điều tiết nguồn nước, lựa chọn giải pháp phù hợp cho từng lưu vực và từng thời điểm, thay vì phản ứng bị động như trước.

Điểm nhấn quan trọng được nhiều chuyên gia thống nhất là cần chuyển đổi tư duy quản lý, từ quản lý theo địa giới hành chính sang quản lý theo lưu vực sông, phù hợp với quy luật tự nhiên của dòng chảy. Đồng thời, thay vì chỉ kiểm soát ô nhiễm, cần tiếp cận theo hướng đánh giá “sức khỏe” của hệ thống nước để có giải pháp căn cơ, lâu dài.

Song song với đó là kiểm soát chặt chẽ nguồn thải, đầu tư hệ thống thu gom và xử lý nước thải, kết hợp bổ sung nguồn nước sạch để cải thiện chất lượng nước.

Các chuyên gia cũng nhấn mạnh việc tái cấu trúc không gian phát triển theo hướng gắn kết quản lý nước với quy hoạch đô thị, hình thành các hành lang sinh thái, không gian xanh ven sông. Đây không chỉ là giải pháp môi trường mà còn góp phần nâng cao chất lượng sống và tạo động lực phát triển kinh tế.

GS TS Trần Đình Hòa, Giám đốc Viện khoa học Thủy lợi Việt Nam chia sẻ tại Tọa đàm. Ảnh: Thanh Tâm.

GS TS Trần Đình Hòa, Giám đốc Viện khoa học Thủy lợi Việt Nam chia sẻ tại Tọa đàm. Ảnh: Thanh Tâm.

Về nguồn lực, khu vực tư nhân được kỳ vọng sẽ đóng vai trò quan trọng. Nhà nước tập trung đầu tư hạ tầng nền tảng, trong khi khuyến khích doanh nghiệp tham gia các dự án xử lý nước, cải tạo sông, phát triển dịch vụ liên quan.

Ở góc độ công trình, ba phương án được đưa ra gồm: vận hành hồ chứa để duy trì mực nước; xây dựng đập ngầm; và xây dựng đập dâng điều tiết. Trong đó, phương án đập dâng được đánh giá có nhiều ưu điểm hơn khi vừa đảm bảo duy trì mực nước mùa kiệt, vừa không cản trở thoát lũ mùa mưa.

GS.TS Trần Đình Hòa, Giám đốc Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam cho rằng, việc ứng dụng công nghệ và xây dựng hệ thống giám sát định kỳ chính là nền tảng để nâng cao hiệu quả đầu tư, hạn chế lãng phí.

“Nhìn rộng hơn, đây không chỉ là nỗ lực ‘cứu’ những dòng sông đã suy thoái, mà còn là bước đi chiến lược nhằm gìn giữ ‘mạch sống’ cho các thế hệ tương lai. Nếu không hành động quyết liệt ngay từ bây giờ, cái giá phải trả sẽ là sự đánh đổi của cả quá trình phát triển dân tộc”, GS.TS Trần Đình Hòa nhấn mạnh.

Với sự đồng hành từ các tổ chức quốc tế như ADB trong việc đánh giá an ninh nguồn nước theo tiêu chuẩn toàn cầu, Việt Nam đang kỳ vọng sẽ tạo ra những chuyển biến rõ rệt, không chỉ phục hồi các dòng sông mà còn đảm bảo nguồn cung nước bền vững cho sinh hoạt và sản xuất trong tương lai.

Nguyễn Thủy - Hoài Thơ

Hình ảnh

Liên kết